//
you're reading...
Tin tức

Tam thập lục kế chú giải

Tam Thập Lục Kế – 36 Kế Sách – Binh Pháp Tôn Tử


Bản tiếng Trung


Những điều cơ bản

Đối với mọi việc

Tất cả tồn tại đều hợp lý.

Đối với chính mình

Chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Đối với chế độ

 

Đối với công việc

Đằng sau tất cả các hoạt động đều có bóng dáng
của lợi ích.

Đối với người khác

Ai cũng vì lợi ích của mình.

Tam Thập Lục Kế: 36 Kế Sách Binh Pháp Tôn Tử

1.Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương)

Kế “Dương đông kích tây” là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ
yếu lại đánh vào phía tâỵ Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều
kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là “Dương đông kích tây” vậỵ Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối
phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị.

 

2. Điệu hổ ly sơn (Dụ hổ ra khỏi rừng)

Kế “Điệu hổ ly sơn” là nhử, dụ hay khuấy động làm cho con hổ ra khỏi rừng. Kế “Điệu hổ ly sơn” có hai lối: Một là nhử hổ ra khỏi rừng để dễ dàng giết hổ. Hai là đuổi hổ đi để
dễ bắt giết những loại hồ ly vẫn dựa oai hổ mà hoành hành.

3. Nhất tiễn hạ song điêu (Một mũi tên hạ hai con chim)

Kế “Nhất tiễn song điêu” là dùng một mũi tên bắn chết hai con chim. Ý của mưu kế này là dung sức lực tối thiểu để đạt đến hiệu quả tối đa.

4. Minh tri cố muội (Biết rõ mà làm như không biết)

Kế “Minh tri cố muội” là biết thật rõ chuyện đấy, nhưng làm ra vẻ không biết gì. Với người xưa, đây là một triết lý xử thế rất cao, mục đích lại ẩn trốn tất cả những tiếng thị phi nghi hoặc, nhưng theo nghĩa mưu kế, nó là một thái độ thâm sâu. Cái đức của người quân tử không thể không cho thiên hạ biết, nhưng cái mưu kế của trượng phu không thể không giấu thiên hạ. Tóm lại, biết rất nhiều mà tỏ ra không biết một là kế “Minh tri cố muội” vậy.

5. Du long chuyển phượng (Biến rồng thành phượng)

Kế “Du long chuyển phượng” là biến cái này thành cái kia, bên trong là hình rồng đó, nhưng làm cho nó trở thành phượng. Cái kế này rất phổ biến, trong dân gian ta gọi là “Treo đầu dê, bán thịt chó”.

6. Mỹ nhân kế (Kế dùng người đẹp)

 “Mỹ nhân kế” là dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những cái khác không thể thực hiện được. Giai nhân từ ngàn xưa đến nay bao giờ cũng là đề tài chính. Tuy là phái yếu, không thể vác gươm đao mà đánh giặc, nhưng các nàng có thể thắng được bằng đôi mắt biếc và nụ cười xinh đẹp. Có những bức thành kiên cố cả mười vạn quân không hạ nổi, nhưng nó có thể bị sụp đổ bởi ánh mắt mỹ nhân. Sức mạnh của mỹ nhân đặc biệt là có ảnh hưởng đối với người anh hùng, người có quyền thế.

7. Sấn hỏa đả kiếp (Theo lửa mà hành động)

Kế “Sấn hỏa đả kiếp” là lợi dụng lúc loạn để thao túng, lúc tình hình rối ren mà sắp xếp theo ý muốn.Có hai loại “Sấn hỏa đả kiếp”: Một là theo lửa để mà đánh cướp. Hai là chính ta phóng hỏa mà đánh cướp. Theo lửa tức là thừa lúc người ở trong cơn nguy biến mà ta quấy hỗn loạn thêm.Phóng hỏa tức là chính ta gây ra sự hỗn loạn mà thực hiện theo ý muốn của ta. Theo lửa hay phóng hỏa cùng đi chung vào một mục đích là đánh địch và đoạt của địch để tạo cơ hội cho ta. Theo lửa thì dựa vào thời cơ sẵn có. Phóng hỏa thì tự ta tạo ra thời cơ. Không thể phê phán theo lửa hay phóng hỏa, cái nào hay, cái nào dở, cái nào tốt, cái nào xấu, vì cả hai giống như một sự biến ảo giữa không khí và nước. Trong sử sách, người ta thấy tay phóng hỏa giỏi là Trương Nghi. Một mình Trương Nghi đã phá tan thế hợp tung bằng cách dối Tề, lừa Triệu, dọa Ngụy, thuyết Yên, bịp Sở. Trương Nghi thật là con người có cái lưỡi bằng lửa thiêu đốt cả sáu nước, dựng thành cơ nghiệp thống nhất cho nhà Tần. Khổng Minh tuy là một nhà chính trị lỗi lạc tài tình, nhưng cái thế của ông ngay từ đầu chỉ là cái thế phải theo lửa để gây vốn: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh chạy đến cùng đường, Khổng Minh đành tính kế nương nhờ Tôn Quyền rồi ăn theo cuộc chiến tranh Nam – Bắc, ăn theo trận Xích Bích để cướp Kinh Châu. “Sấn hỏa đả kiếp” đòi hỏi một khả năng hành động mau lẹ như con ó bắt mồi.

8.
Vô trung sinh hữu
 

(Không
có mà làm thành có)

Kế “Vô trung
sinh hữu” là từ không mà tạo thành có. Thiên hạ không
loạn, trật tự không rối thì làm gì có anh hào
xuất lộ! Bởi lẽ đó, những anh hào
thường được gọi là kẻ “chọc
trời khuấy nước”. Mục đích của
khuấy nước là làm rối beng sự việc lên
để dễ bề thao túng. Thủ đoạn
của khuấy nước là gây tiếng tăm, tung
tiếng đồn, gây xáo trộn rồi dựa vào
đó mà thủ lợi.
Kế “Vô trung sinh hữu” hình dung là tu hú đẻ
nhờ, tổ thì chim khác làm, nhưng con tu hú cứ
đến đặt trứng của nó vào đó, rồi
lại nhờ loài chim khác ấp trứng luôn, khi trứng
nở thành chim, tu hú con bay về với bầy tu hú.

9.
Tiên phát chế nhân
 

(Ra tay
trước để chế phục đối
phương)

 “Tiên phát chế nhân” là ra tay
trước để dành chiếm ưu thế,
để đoạt lợi, để bắt lấy
sự chiến thắng. Kế “Tiên phát chế nhân” là
không nói quá xa, viễn vông, mà phải nhìn vào thực tế
gần nhất. Các vụ xảy ra trong lịch sử
như: Lý Thế Dân tại Huyền Vũ Môn, Võ Tắc
Thiên phế lập Lư Lăng Vương, Ung Chính
cướp Bảo Tòa, Từ Hi độc sát Quang Tự,
Gia Cát Lượng lấy đất Quang Trung… Tất
cả đều là áp dụng thủ đoạn
“chớp nhoáng” không cho địch kịp trở tay, không
cho dư luận phản ứng kịp.
Vẫn có câu “Tiên hạ thủ vi cường” là vậy.

10.
Đả thảo kinh xà
 

(Đập
cỏ làm cho rắn sợ)

Kế
“Đả thảo kinh xà” là đập vào cỏ, làm
động cho rắn sợ.

11.
Tá đao sát nhân
 

(Mượn
đao để giết người)

Kế “Tá đao
sát nhân” là mượn dao để giết người,
mượn tay người khác để giết kẻ
thù của mình. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Sát nhân
bất kiến huyết, kiến huyết phi anh hùng”.
(Giết người không thấy máu, thấy máu không anh
hùng). Trên đời dĩ nhiên chưa có kẻ nào chỉ
giết người mà thành anh hùng, nhưng cũng
hiếm có tay anh hùng nào không giết người.
Điểm khác nhau không ở có hay không, mà ở chỗ
thông minh hay ngu xuẩn. Tào Tháo mượn Lưu Biểu
giết Nễ Hành, mượn lòng quân giết
Dương Tu rồi lại được làm cái
việc mèo già khóc chuột, thật đáng kể là
một tay thông minh, gian hùng.

12.
Di thể giá họa
 

(Dùng
vật gì để vu khống người ta)

Kế
“Di thể giá họa” là đem xác chết hay đồ
vật gì bỏ vào nhà người khác để giá
họa. Kế này thường được dùng bởi
khối óc quỷ quyệt thông minh, tự mình không ra
mặt mà làm cho đối phương bị hại.
Như vậy gọi là “giết người không thấy
máu”.

13. Khích tướng kế 

(Kế chọc giận tướng giặc)

 “Khích tướng
kế” là kế chọc giận tướng giặc, làm
tướng giặc nổi giận. Nổi giận
sẽ mất sáng suốt, thiếu suy nghĩ, không tự
chủ được con người mình. Mạnh Tử
nói: “Nhất nộ nhi an thiên hạ”. Trong
đời có nhiều sự việc được thành
tựu bằng một cơn giận và cũng có
nhiều việc thất bại bởi một cơn
giận. Bởi vậy cái kế khích tướng cũng
là một trong những diệu kế, nếu đạt
ra thì kiến thiên hạ, cùng thì mang họa vào thân.
Khích tướng còn là khơi dậy cái hùng khí của
người khác để người ấy làm việc
cho ta. Đối tượng tốt nhất của
kế khích tướng là những người có tính tình
bạo tháo hay sẵn sàng phẫn nộ. Tuân Tử
bảo rằng: “Lời nói khéo êm như lụa, lời
nói ác nhọn như giáo mác”. Thuyết là tiến dẫn
lời nói, cái nghĩa căn bản của thuyết làm
cho người ta nghe theo. Hiệu quả của
thuyết rất lớn. Bởi thế mới có câu: “Thiên
hạ tĩnh, nhất ngôn sử chi động. Thiên
hạ động, nhất ngôn sử chi tĩnh”. (Thiên
hạ đang yên lặng, một lời nói làm náo
loạn. Thiên hạ đang náo loạn, một lời nói
làm lắng dịu)..

14. Man thiên quá hải 

(Lợi dụng sương mù để
lẩn trốn)

Kế
“Man thiên quá hải” là lợi dụng lúc trời
sương mù mà lẩn trốn, vượt qua hay hành
động ngay trong lúc sương mù. Man thiên, trời u ám
không phải hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi như
một quẻ trong Dịch lý đã nói. Man thiên, không
thể ngồi đợi nó tới như sương mù
do thời tiết thiên nhiên, mà phải tạo ra nó. Kế
“Man thiên” đem áp dụng thực hiện được
cả hai mặt: tiêu cực lẫn tích cực. Tích
cực là đem ánh sáng đến cho một tình thế mờ
mịt. Tiêu cực là lẩn tránh một tai họa, là
lợi dụng cơ hội sơ hở của
địch để thoát bí. Ở trận Xích Bích,
Khổng Minh đã giải quyết vấn đề thiếu
tên bắn cho các cung thủ bằng cách lấy
mười chiếc thuyền lớn chất đầy
rơm, đợi lúc trời sương mù, âm thầm
đến trại Tào Tháo nổi trống la hét làm như
tấn công. Tào sợ ngụy kế, không dám xông ra,
chỉ bắn tên như mưa vào các thuyền rơm.
Bằng một đêm đánh trống reo hò, không chết
một người, Khổng Minh đã lấy
được của Tào Tháo cả trăm ngàn mũi tên.

15. Ám độ trần sương 

(Đi con đường mà không ai nghĩ
đến)

Kế
“Ám độ trần sương” là bí mật đưa
quân qua con đường mà không ai nghĩ rằng ta
sẽ đi qua.Kế này áp dụng giữa lúc hai bên
đang đấu tranh, chiến đấu với nhau.Mỗi
bên đều ra sức giấu mục tiêu thật
của mình rồi đưa ra mục tiêu giả mà
lừa đối phương. Đây là công việc
rất phức tạp, có một quá trình khúc triết.
Như “Tôn Tử Binh Pháp” viết: “Việc binh là trá
ngụy, có thể mà làm ra vẻ không có thể, dùng
đấy mà tỏ ra không dùng, gần giả làm như
xa, xa giả làm như gần. Lấy lợi mà dụ, gây
rối mà đuổi, thấy khỏe thì tránh. Đầu
tiên là làm mọi cách giảm nhược lực
đối phương, sau rồi mới tiến hành
dự định. Muốn dụng kế này phải là
người có tầm nhìn xa hiểu rộng và một
khối óc tuyệt vời.

16. Phản khách vi chủ 

(Đổi vị khách thành vị chủ)

Kế
“Phản khách vi chủ” là đổi địa vị
khách thành địa vị chủ.
“Phản khách vi chủ” là trong đấu tranh đang
ở vào thế bị động nên phải tìm kế
hoạch đến chủ động, khách vốn là
địa vị bị chi phối, mọi việc
đều do chủ đặt định sắp
xếp. Phản khách vi chủ” là nguyên tắc
thường dùng trong đấu tranh. Có chủ
động mới khống chế được
cục diện. Không có chủ động, không thể
thắng lợi.

17. Kim thiền thoát xác 

(Ve sầu vàng lột xác)

 “Kim thiền thoát xác” là con ve
sầu vàng lột xác. Kế này dùng cho lúc nguy cấp, tính
chuyện ngụy trang một hình tượng để
lừa dối, che mắt đối phương,
đặng đào tẩu chờ một cơ hội
khác. Kế “Kim thiền thoát xác” có một phạm vi
rất rộng rãi và phổ biến, bất cứ ai
ở hoàn cảnh nào cũng có thể sử dụng
được.

18. Không thành kế 

(Kế bỏ trống cửa thành)

 “Không thành kế” là kế bỏ
thành trống, thành bỏ ngỏ.
Kế này có hai loại:  Một là lúc tình thế cực
khẩn cấp, nguy hiểm như treo trên sợi tóc,
buộc phải dùng nghi binh để lừa dối
đối phương mà dựa vào đó để
trốn thoát. Hai là rút lui với đầy đủ
kế hoạch dụ cho địch quân xâm nhập
rồi mới bao vây tiêu diệt. “Không thành kế”
thực ra là một cách tạo nghi âm cho đối
phương, mục đích là không cho đối
phương sớm có một quyết định.

19. Cầm tặc cầm vương 

(Dẹp giặc phải bắt tướng
giặc)

 “Cầm tặc cầm
vương” là dẹp giặc phải bắt chúa
giặc. Phương pháp bắt chúa giặc thật thiên
biến vạn hóa, không cứ bằng sức mạnh hay
bằng trí khôn. Các kế khác như “Điệu hổ ly
sơn”, “Mỹ nhân kế” hay “Man thiên quá hải”
đều có thể dùng cho kế “Cầm tặc cầm
vương”. Để đối phó với một nhân
vật anh hùng, thì dù một quả đạn mà giết
hay dùng mỹ nhân kế mà nhử thì cũng như nhau. Nhưng
đa số âm mưu cầm vương được
hiệu quả bằng kích thích anh hùng và mỹ nhân
kế. “Tự cổ anh hùng đa hiếu sắc” là
vậy. Việt Vương thua trận rồi, mà chỉ
dùng một nàng Tây Thi đã đủ giam cầm Phù Sai. Lý
Viên muốn đoạt quyền của Xuân Thân Quân, nên
đã cho cô em là Lý Yên sang làm tì thiếp. Đó là những
cách gián tiếp để cầm vương.

20. Ban chư ngật hổ 

(Giả làm con heo để ăn thịt con
hổ)

Kế
“Ban chư ngật hổ” là giả làm con heo để ăn thịt con hổ. Lão Tử nói:
“Người cực khôn khéo mà làm ra vụng về”,
cũng như câu “đại trí nhược ngu”.
Người đi săn thường học tiếng heo
kêu rồi tự giả làm heo để nhử con
hổ. Đối với kẻ thù, ta hãy giả ngu
như một con heo, trên bề mặt cái gì cũng
thuận chịu, lúc nào cũng cười, lúc nào cũng
cung kính để cho địch mất hết nghi âm.
Chờ thời cơ chín, tìm thấy chỗ nhược
của kẻ thù mà đập đòn sấm sét. Dùng
việc không gì quan trọng bằng bí mật. Hành
động không gì quan trọng bằng thừa lúc bất
ý.  Dò xét không gì quan trọng
bằng làm cho địch không hay biết.  Bên ngoài ra vẻ loạn mà bên
trong rất có cơ ngũ. Tỏ ra đói mệt
nhưng thật là no khỏe. – Làm ra ngu xuẩn nhưng
rất tinh tường. Những câu trên đây chính là
căn bản lý luận của kế “Ban chư ngật
hổ” vậy.

21. Quá kiều trừu bản 

(Qua cầu rồi phá cầu)

 “Quá kiều trừu bản” là qua
cầu rồi thì phá cầu, ý nói một người sau
khi đã thành công, muốn hưởng thụ một mình
nên giết hại hoặc xa lánh những người
bạn đã đồng lao cộng khổ với mình. Kế
“Quá kiều trừu bản” thường trái ngược
với kế “Ban chư ngật hổ”. Qua cầu
cất nhịp là lúc đắc thời đắc
thế đem thuộc hạ ra mà khai đạo. Còn
giả tiếng heo là kế áp dụng giữa lúc ở
vào thế kẹt. Đứng trên lập trường
đạo lý thì cất nhịp cầu là một hành
động vong ân bội nghĩa. Lưu
Bang nổi danh là người qua cầu cất nhịp
lớn nhất trong lịch sử. Lúc Lưu Bang hàn vi còn
đi ăn cắp gà, thôi thì Bang nói
đủ các điều ngon ngọt dễ nghe để
tựu chúng lập đảng. Đến khi nên cơ
nghiệp rồi, lo việc củng cố quyền
thế, Lưu Bang chẳng ngại gì hết, đổi
lại thái độ, nghi ghét triều thần. Người
thứ nhất mà Lưu Bang lôi chém là Hàn Tín, rồi
đến Bành Việt, Anh Bố, bỏ tù Tiêu Hà, Trần
Hi, Phàn Khoái. Trương Lương thấy họa
chẳng chóng thì chày cũng đến với mình, nên
bỏ trốn lên rừng học đạo tu tiên.

22. Liên hoàn kế 

(Kế móc nối nhau)

 “Liên hoàn kế” là nối liền
với nhau thành một dây xích.
“Liên hoàn kế” còn là vận dụng một quyền
thuật để tạo phản ứng dây chuyền cho
đối phương hoặc gây thành phản ứng
nhiều mặt.
Mỹ nhân kế là vũ khí phổ biến nhất
cần thiết cho việc dùng “Liên hoàn kế”. Vì
người đẹp ví như nước, anh hùng ví
như bùn, nước làm cho bùn nhão ra. Từ ngàn xưa,
đa số anh hùng đã vì thương hoa tiếc
ngọc nên bỏ lãng nhiệm vụ. Tuy vậy, vẫn
phải phân biệt “Mỹ nhân kế” với “Liên hoàn
kế”. Liên hoàn kế là một hình ảnh của
thực tiễn, bất cứ việc gì xảy ra
cũng gây thành phản ứng dây chuyền. Việc
xảy ra hôm nay cũng không tự dưng mọc ra, nó phải
là kết quả dây chuyền từ những sự
việc trước.

23. Dĩ dật đãi lao 

(Lấy khỏe để đối phó
với mệt)

Kế
“Dĩ dật đãi lao” là lấy sự thanh thản
để đối phó với hấp tấp, nhọc
nhằn; dưỡng sức mà đợi kẻ phí
sức. Kế này viết ở trong thiên “Quân Tranh” của
bộ “Tôn Tử Binh Pháp”: “Lấy gần đợi xa,
lấy nhàn đợi mệt” nghĩa là trên chiến
thuật phải tìm nắm trước địa vị
chủ động để ứng phó với mọi
tấn công của địch. Cũng có ý nói nên chuẩn
bị chu đáo, dễ dàng lấy cái thế bình tĩnh
xem xét tình hình biến hóa mà quyết định chiến
lược, chiến thuật. Đợi địch
mỏi mệt, tỏa chiết bớt nhuệ khí rồi
mới thừa cơ xuất kích. Tôn Tử gọi
thế là: “Ẩn sâu dưới chín từng đất, hành
động trên chín từng trời”. Sử dụng sách
lược này đòi hỏi thái độ tuyệt
đối trầm tĩnh ứng biến, đo
được ý kẻ thù, hoàn cảnh kẻ thù, thực
lực kẻ thù. Nếu thời cơ chưa chín thì
đứng yên như trái núi. Khi cơ hội vừa
tới thì lập tức lấp sông, chuyển bể. Tư
Mã Ý ngăn Gia Cát Lượng ở Kỳ Sơn.
Chu Du phóng hỏa tại Xích Bích. Tào Tháo đại phá Viên
Thiệu nơi Quan Độ. Tạ Huyền đuổi
Bồ Kiên ở Phi Thủy. Tất cả đều
lấy ít đánh nhiều, thế kém vượt thế
khỏe. Tất cả đều là kết quả sử
dụng tài tình sách lược “Dĩ dật đãi lao”.

24. Chỉ tang mạ hòe 

(Chỉ vào gốc dâu mà mắng cây hòe)

 “Chỉ tang mạ hòe” là chỉ
vào gốc dâu mà mắng cây hòe. Ý nói vì không tiện mắng
thẳng mặt nên mượn một sự kiện khác
để tỏ thái độ.

25. Lạc tỉnh hạ thạch (Ném đá vào người
dưới giếng)

 “Lạc tỉnh hạ thạch”
là ném đá vào đầu kẻ đã rơi xuống
giếng. Rơi xuống giếng lại còn ném đá vào
đầu nạn nhân. Nếu đứng trên quan
điểm đạo đức Khổng – Mạnh thì
phải là hành động không chính nhân quân tử, nhưng
nếu coi là một mưu kế thì hành động này lại
là một hành động sáng suốt. Căn bản
triết lý của “Lạc tỉnh hạ thạch” là chi
phối được thì mới chiếm đoạt
được, và nhân từ với kẻ thù tức là
tàn nhẫn với chính ta.
Lưu Bị lúc nào hé miệng cũng nói những
điều nhân từ, lúc nào cũng chảy nước
mắt, nhưng ông lại là người cũng giỏi
thủ đoạn “Lạc tỉnh hạ thạch”
nhất. Chẳng vậy mà khi Lã Bố vốn là
người làm nhiều ân huệ đối với
Lưu Bị, nào việc bắn kích ở Viên Môn, nào
việc cho Lưu Bị nương tựa ở căn
cứ mình… Đến lúc Lã Bố bị bắt sau khi
thất trận Từ Châu, Tào Tháo trong lòng còn đôi chút
thương mến muốn dụ dỗ Lã Bố, Lưu
Bị ngại Tào Tháo có thêm một mãnh tướng
nữa nên đã ghé tai Tào Tháo mà nhắc khéo: “Ông không
nhớ chuyện Đinh Nguyên và Đổng Trác hay sao?”
(Đinh Nguyên và Đổng Trác đều nhận Lã
Bố làm con nuôi, nhưng đều bị chết vì tay
Lã Bố. Lưu Bị đã không kể đến ơn
nghĩa, lại còn đưa đòn độc “Lạc
tỉnh hạ thạch” hạ Lã Bố. Như vậy, Lã
Bố làm sao khỏi chết!

26. Hư trương thanh thế 

(Thổi phồng thanh thế)

 “Hư trương thanh thế”
là thổi phồng thanh thế để cho người
ta chóa mắt, nể sợ. Đời Tam Quốc, Tào Tháo
tiến xuống Giang Định, rầm rộ cả
trăm vạn hùng quân. Tháo định dùng ưu thế
tuyệt đối để buộc Tôn Quyền
phải hàng phục. Nhưng Khổng Minh trông thấy âm
mưu này nên chỉ ba vạn quân với một số
mưu kế và trận gió đông đã đánh bại
quân Tào.
Khi sử dụng kế này, trước hết phải
xem mục đích và giá trị của nó thế nào đã,
rồi mới định cỡ to nhỏ.

27. Phủ để trừu tân 

(Bớt lửa dưới nồi)

Kế
“Phủ để trừu tân” là bớt lửa
dưới nồi, ý nghĩa là giải quyết trên
căn bản một vấn đề, chủ ý không cho
nó phát ra (bớt lửa cho nước khỏi trào).
Khi có một việc đã bùng nổ ra rồi thì tìm cách
làm cho nó dịu đi, không để nó tiếp tục ác
liệt. Chỗ diệu dụng kế “Phủ để
trừu tân” là không nghe thấy tiếng, không nhìn thấy
hình, vô cùng như trời đất, khó hiểu như âm
dương, khiến cho kẻ thù rơi vào kế của
mình mà họ không biết.

28. Sát kê hách hầu 

(Giết gà cho khỉ sợ)

“Sát kê
hách hầu” nghĩa đen là giết con gà cho con khỉ
sợ.
Theo truyền thuyết dân gian, con khỉ rất sợ
trông thấy máu, cho nên khi người ta muốn dạy
khỉ, trước hết họ giết một con gà,
bắt con khỉ nhìn thấy đống máu bê bết
rồi mới bắt đầu giáo hóa. Lúc bắt khỉ
cũng thế, người ta vặn cổ con gà cho nó kêu
lên những tiếng ghê rợn, khiến cho khỉ
bủn rủn chân tay thì đến bắt.“Sát
kê hách hầu” có tác dụng lớn, làm cho các vụ
mới nở ra trong trứng nước bị rơi vào
cảnh bối rối, sợ sệt.

29. Phản gián kế 

(Dùng kế của đối phương
để quật lại)

 “Phản gián kế” là dùng
người của đối phương lừa
dối đối phương, dùng kế địch
lừa địch. Tôn Tử nói: “Biết mình là biết
thực lực và nhiệm vụ của mình. Biết
người là biết thực lực và ý đồ
của địch. Biết mình thì tương đối
dễ hơn biết người. Cho nên muốn biết
người thì phải dùng gián điệp”.

30. Lý đại đào cương 

(Đưa cây lý chết thay cây đào)

 “Lý đại đào cương”
là đưa cây lý chết thay cho cây đào.
Người lớn làm họa, bắt người bé
chịu tội thay. Có rất nhiều kẻ tác gian
phạm tội lại bắt người khác thế
thân.

31. Thuận thủ khiên dương 

(Thuận tay dắt con dê về)

 “Thuận thủ khiên
dương” theo nghĩa đen là thuận tay dắt con dê
về.
Sự việc trên đời, thiên biến vạn hóa
rất kỳ diệu. Phải biết nắm lấy
bất cứ cơ hội nào vụt hiện đến
trước mắt, đó là những thâu hoạch,
những cái lợi bất ngờ.

32. Dục cầm cố tung 

(Muốn bắt mà lại thả ra)

 “Dục cầm cố tung” theo
nghĩa đen là muốn bắt cho nên thả ra.
Muốn thực hành kế này, phải có một nhãn quan
sâu rộng, một tấm lòng nhẫn nại vô song.
Những kẻ cấp công cận lợi không bao giờ
có đủ tài trí để thi hành nó. Kế “Dục
cầm cố tung” không thi hành theo cái nghĩa đen
của nó. Kế này nói lên sự mềm dẻo cho mọi
chính sách, thứ nhất là chính sách thu phục lòng
người, giữ người.

33. Khổ nhục kế 

(Hành hạ thân xác mình để người ta
tin)

 “Khổ nhục kế” là hành
hạ mình, rồi đem cái thân xác bị hành hạ
ấy để làm bằng chứng mà tiếp cận
với địch để hoàn thành một âm mưu nào
đó.

34. Phao bác dẫn ngọc 

(Ném hòn ngói để thu về hòn ngọc)

 “Phao bác dẫn ngọc” nghĩa
đen là ném hòn ngói để thu về hòn ngọc. Tức
là dùng tiểu vật để đoạt một
đại vật, như người đi câu vậy.
Dân gian thường nói “thả con tép bắt con tôm”
cũng là kế này.

35. Tá thi hoàn hồn 

(Mượn xác để hồn về)

 “Tá thi hoàn hồn” nghĩa là
mượn xác để hồn về.
Ý kế này chỉ rằng: Sau khi đã thất bại,
buộc phải lợi dụng một lực
lượng nào đó để khởi lên thi hành trở
lại chủ trương của mình.
Tuy nhiên, dùng kế này rất dễ đi vào con
đường nguy hiểm, nếu sơ xuất thì
tỷ như rước voi về giày mả tổ.

36. Tẩu kế 

(Chạy, lùi, thoát thân)

 “Tẩu kế” nghĩa là
chạy, lùi, thoát thân.Tại sao kế sau chót cổ nhân
lại đặt là “kế chạy”? Lại có câu: “Tam
thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. (Ba
mươi sáu chước, chạy là hơn hết!) Bởi
vậy kế này liên quan nhiều đến sự thành
bại của một công việc lớn. Bất luận
là đánh nhau bằng văn hay bằng võ, không ai là có
thể thắng hoài. Trong quá trình chiến đấu bao
gồm nhiều kiểu thắng, nhiều kiểu
bại, lúc ẩn lúc hiện, trong chớp mắt dồn
dập cả trăm ngàn biến chuyển. Nếu không
ứng phó mau lẹ để tránh những cảnh
bất lợi, để nắm mau lợi thế mà
tiến tới thắng lợi, thì không phải là nhân tài.
Chạy có nhiều phương thức. Bỏ giáp,
bỏ vũ khí mà chạy, bỏ đường nhỏ
mà chạy tới đường lớn, bỏ
đường bộ mà chạy sang đường
thủy… Các phương thức tuy không giống nhau
nhưng cùng hướng chung đến mục đích là
tránh tai họa để bảo đảm an toàn,
để bảo toàn lực lượng.
“Tẩu kế” không phải là chạy dài. Chạy chỉ
là một giải pháp để mà sẽ quay lại. Tinh
hoa của kế chạy là giành thời gian, bảo
tồn sức khỏe, lực lượng. Rút chạy
đến một vị trí mới, cho tư thế
vững mạnh hơn, tập trung nỗ lực và
củng cố tinh thần, chọn một cơ hội
thuận tiện để quật lại, ấy mới
thực là “Tẩu kế”. Sau hết phải lo
đến điểm nguy của kế chạy: Khi
chạy, sẽ mất tinh thần, sự việc hoàn toàn
lỏng lẻo, mất sự tin tưởng ở xung
quanh. Nếu không giải quyết cho chính xác những
vấn đề trên thì “tẩu” không còn là một kế
hoạch nữa, mà là một sự tan rã vậy!

 

 

 

Phụ lục

Thắng chiến kế gồm có:

1-Man thiên quá hải (dối trời
qua biển)

2-Vi Ngụy cứu Triệu (vây
Ngụy cứu Triệu)

3-Tá đao sát nhân (mượn dao
giết người)

4-Dĩ dật đãi lao
(lấy nhàn đãi mệt)

5-Sấn hỏa đả kiếp
(nhân cháy nhà đánh cướp)

6-Dương đông kích tây kích tây
(nói đánh phía đông mà đánh phía tây)

Địch chiến kế gồm có:

1- Vô trung sinh hữu (trong không sinh có)

2- Ám độ Trần Thương
(lén đi qua Trần Thương – ghi chú người
đọc: nay ở tỉnh Thiểm Tây)

3- Cách ngạn quan hỏa (cách bờ
xem lửa)

4- Lý đại đào cương
(mận chết thay đào)

5- Thuận thủ khiên dương
(thuận tay bắt dê)

6-… đây thiếu một kế

Công chiến kế gồm có:

1- Đả thảo kinh xà (đánh
cỏđộng rắn)

2- Tả thi hoàn hồn (mượn
xác trả hồn)

3- Điệu hổ ly sơn
(bắt hổ lìa núi)

4- Dục cầm cố túng (muốn
bắt thì thả)

5- Phao chuyên dẫn ngọc (ném
gạch đưa ngọc đến)

6- Cầm tặc cầm vương
(bắt giặc bắt vua)

Hỗn chiến kế gồm có:

1- Phú để trừu tân (rút
củi dưới đáy nồi)

2- Hỗn thủy mô ngư
(đục nước mò cá)

3- Kim thiền thoát xác (ve vàng lột
xác)

4- Quan môn tróc tặc (đóng cửa
bắt giặc)

5- Viễn giao cận công (xa thì
chơi, gần thì đánh)

6- Giả Đồ phạt Quắc
(mượn đường nước Đồ đánh
nước Quắc)

Tịch chiến kế gồm có:

1- Du lương hoán trụ (trộm
rường thay cột)

2- Chỉ tang mạ hoè (chỉ cây
dâu mắng cây hoè)

3- Giả si bất điên (giả ngu không điên)

4- Thượng ốc trừu thê
(lên nhà rút thang)

5- Thụ thượng khai hoa (trên
cây hoa nở)

6- Phản khách vi
chủ (đổi khách làm chủ)

Bại chiến kế gồm có:

1- Mỹ nhân kế

2- Không thành kế

3- Phản gián kế

4- Khổ nhục kế

5- Liên hoàn kế

6- Tẩu vi
thượng.

Đó là 36 kế
của người Trung Hoa.

 

 

Phương pháp 4 làm chủ

Nghiên cứu về binh pháp Tôn Tử

Tôn Vũ (Tôn Tử) cho rằng,
sự tốt xấu về nhân tố tinh thần, sự
mạnh yếu về tình trạng thể lực, cái ưu
cái khuyết trong việc bố trí trận địa
chiếm một vị trí quan trọng trong vấn
đề tác chiến. Do vậy ông nêu lên phương pháp
“bốn làm chủ”: “Làm chủ chí khí, làm chủ nhân tâm, làm
chủ nhân lực và làm chủ sự biến đổi”.
Ông phát biểu trong “Thiên quân tranh”: “Ban ngày thì chí khí sắc
sảo, ban đêm thì chí khí cùn nhụt, chập tối thì
chí khí trở về, đó là làm chủ chí khí; đối
xử với rối loạn bằng sự làm chủ,
đối xử với ồn ào bằng yên tĩnh, đó
là làm chủ nhân tâm; đối xử với cái xa bằng
cái gần, đối
xử  với   cái
đói   bằng   cái
no,  đó   là
làm   chủ  nhân
lực;   không   cầu
được   cờ  chính thống,   chớ đánh   vào
trận  địa   một
cách  đường   hoàng”,
đó   là   làm
chủ  sự  biến
đổi. Phương pháp “Bốn làm chủ”
được Tôn Vũ nêu lên như sau:

Làm chủ chí khí:

Thời xưa, tác
chiến gắn liền với việc đánh nhau trực
tiếp, sự thắng bại của chiến tranh
với dũng khí của quân sĩ có mối quan hệ
cực kỳ mật thiết.
Sĩ khí và ý chí
chiến đấu là nhân tố hàng đầu của
sức chiến đấu.
Sĩ khí dâng cao thì dễ
dành thắng lợi, sĩ khí sa sút thì
thường dẫn đến thất bại.

Làm chủ nhân tâm:

Ý nói trước trận đánh và
trong trận đánh, tướng soái không được
dao động hoặc dễ dàng thay đổi quyết
tâm chiến
đấu
như đã tuyên thệ. Chữ
“Tâm”  ở đây người
thời trước gọi bằng “bản tâm”, “tâm
mưu”, mặc dầu nội dung của nó bao gồm các
phương diện khí chất tinh thần và tu
dưỡng tư tưởng, nhưng hạt nhân là lòng
quyết tâm chiến đấu của tướng soái.
Xung quanh vấn đề lòng quyết tâm chiến
đấu của người chỉ huy, Tôn Tử nói trong
“Thiên quân tranh”: “Tướng có thể dành lòng người”.
Ông còn bảo: “Đối xử với rối loạn
bằng việc làm chủ, đối xử với sự
ồn ào bằng sự yên tĩnh, đó là làm chủ nhân
tâm”. Điều này nói lên cuộc đấu tranh giữa
lòng quyết tâm chiến đấu của bên ta với lòng
“lung lay” hay cái “vững tâm”, “Đoạn tâm” trong quyết
tâm chiến đấu của đối phương.
Về “vững tâm” một nhà học giả họ Hà chú
thích: “Không có vị tướng nào lại muốn  đơn
độc   một   mình,
chỉ  dựa   vào
sự  tinh   tế
khôn   ngoan   của
một   cá   nhân,
mà muốn liên kết với hàng vạn con
người, để đối phó với kẻ
địch như hổ, báo. Cái lợi cái hại đan
xen, cái thắng cái bại lẫn lộn, người tài
trí phải biến, trù liệu trong tâm trí, không phóng
đại sự việc, phải ngăn nắp
được thế sao chẳng đáng gọi là ứng
biến khôn cùng, xử sự rạch ròi?”. Đó
là nói về tầm quan trọng của “vững tâm”.

Đỗ Mục phát biểu: “Tư Mã Pháp nói: Bản
chất phải vững vàng, biết được kẻ
địch sẽ có cách đối phó, bản tâm ổn
định, nhưng còn phải biết điều
khiển nó, làm cho thế ổn định càng trở nên
chắc chắn, đừng bận tâm đến sự
nhiễu loạn, đừng vì cái lợi trước
mắt. Đợi chừng nào kẻ
địch rối loạn, ồn ã thì xuất quân tấn
công”.
Đấy là nói về yêu cầu
của “vững tâm”.
Trương Dự bảo:
“Lấy trừng trị đối xử với rối
loạn, lấy cái tĩnh lặng đối xử
với cái ồn ào, lấy cái bình tâm đối xử
với cái nôn nóng, lấy sự nhẫn nại đối
xử với giận dữ, đó là nói về
phương pháp của “vững tâm”. Về “đoạn
tâm”, Lý Chuyên nói: “Bực tức dẫn đến phẫn
nộ, càn quấy dẫn đến rối loạn,
nhỏ nhen đi đến kiêu căng, ngăn cách dẫn
đến xa lạ”. Đó là nói về các
phương pháp “đoạn tâm”.

Làm chủ nhân lực:

Ý chỉ việc
tiêu hao và làm mỏi mệt sức chiến đấu
của kẻ thù.
Tôn Vũ nêu lên phương pháp “làm chủ
nhân lực” trong “Thiên quân tranh”: “Đối xử với
cái xa bằng cái gần, đối xử với cái
mệt nhọc bằng cái thư nhàn,
đối xử với cái đói bằng cái no”. Ông cho rằng lúc tác chiến phải nuôi
dưỡng bằng cái tinh nhuệ, có thế mới có
khả năng giành thắng lợi.
Tôn Vũ còn
bảo: “Giao chiến với kẻ địch sau cuộc
hành quân đường dài, điều đó làm hao tổn
binh lực, vì binh sĩ đã chịu nhiều cơ cực
trên đường đi, sinh lực mệt mỏi dẫn
đến cạn kiệt, tất nhiên dẫn đến
tình trạng hao binh tổn tướng.

Làm chủ sự biến đổi:

Cơ mưu quân sự biến
đổi khôn lường, khi đã nắm
được quyền chủ động trên chiến
trường, vẫn không thể xem nhẹ vai trò của
chiến thuật “làm chủ sự biến đổi”, cái
gọi là làm chủ sự biến đổi ấy là
nắm vững phương pháp biến hóa cơ
động. Điều mà Tôn Vũ đề cập trong
“Thiên quân tranh”: “Không cầu được cờ chính
thống, chớ đánh vào trận địa một cách
đường hoàng” chính là ứng biến. “Cờ chính
thống”, “trận địa đường hoàng” là chỉ
tình thế quân đội khi có khí thịnh vượng,
quân dung nghiêm chỉnh, thực lực hùng hậu và có
sự chuẩn bị, đầy đủ về mặt
tư tưởng, loại kẻ thù này, vừa mạnh
vừa có sự chuẩn bị, tất nhiên là khó đánh,
lúc này phải gác lại ý định tác chiến với
bọn chúng. Cần sử dụng nhiều thủ pháp
của chiến thuật làm chủ ý chí, làm chủ nhân tâm,
làm chủ nhân lực… biến đổi chúng theo tình hình của địch, hoặc công
phá hay cố thủ, hoặc tiến hay thoái, hoặc chính
quy hay kỳ lạ, nhằm giành thắng lợi.

 

 

Advertisements

About pascalteacher

Trang thông tin Toán học và Tin học

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Các tác giả

Danh mục

Tháng Tám 2015
H B T N S B C
« Th1   Th9 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

NCT Computer

Flickr Photos

Merle running

Sentinels

Papilio Machaon...

More Photos

Thống kê

  • 136,495 lượt xem

pascalteacher.nct@gmail.com


Trang huấn luyện học sinh giỏi Tin học

%d bloggers like this: