//
you're reading...
Chủ đề chung, Dùng cho cấp THCS, Dùng cho cấp THPT, Tổng hợp tài liệu, Tin học

Bài 1: Sử dụng TURBO PASCAL

Các công cụ phát triển
Như đã trình bày ở trên, việc triển khai một chương trình Pascal cần tiến hành nhiều bước, từ soạn thảo văn bản chương trình cho đến biên dịch, liên kết, chạy thử và sửa lỗi. Mỗi bước như vậy đều cần có một công cụ hỗ trợ tương ứng. Để soạn thảo văn bản chương trình cần dùng một bộ soạn thảo – Editor. Để biên dịch chương trình cần có trình biên dịch – Compiler. Để liên kết các đoạn mã sau biên dịch thành chương trình cần dùng trình liên kết – Linker. Trình hỗ trợ phát hiện và sửa lỗi gọi làDebuger. Turbo Pascal đã kết hợp tất cả các công cụ cần thiết thành một tổng thể hoàn chỉnh, cho phép dễ dàng thực hiện mỗi bước và chuyển tiếp giữa các bước. Đó là môi trường phát triển tích hợp (IDE – Integrated Development Environment) của Turbo Pascal.
Bộ phần mềm Turbo Pascal gồm nhiều tệp. Dưới đây là một số tệp chính.
– Turbo.exe: soạn thảo, biên dịch, liên kết, sửa lỗi, trợ giúp.v.v. Đây là tệp chính tạo nên môi trường phát triển tích hợp của Turbo Pascal.
– Turbo.tpl : (Turbo Pascal Library) thư viện chuẩn phục vụ cho turbo.exe.
– Graph.tpu: (Turbo Pascal Units) thư viện chương trình về đồ hoạ
– *.CHR : các phông chữ trong chế độ đồ hoạ
– *.BGI : (Borland Graphics Interfaces) các trình điều khiển màn hình đồ hoạ của Borland.

Các chức năng và cách dùngĐể mở môi trường phát triển Turbo Pascal cần phải cho chạy tệp Turbo.exe. Sau nhiều lần cải tiến, phiên bản phổ biến hiện nay là Turbo Pascal 7.0. Phần trình bày dưới đây là căn cứ trên phiên bản này.
Màn hình làm việc
Sau khi khởi động sẽ hiện ra màn hình để bắt đầu việc soạn thảo, biên dịch, chạy thử và sửa lỗi chương trình. Trên đỉnh màn hình là thanh chọn chính. Dưới đáy màn hình là dòng nhắc lệnh. ở giữa là vùng làm việc.
Thanh chọn chính
File Edit Search Run Compile Debug Tools Options Window Help
Vùng làm việc
F1 Help F2 Save F3 Open Alt+F9 Compile F9 Make Alt+F10 …
Dòng nhắc lệnh
Mỗi mục tên trên thanh chọn chính cho phép mở ra một bảng chọn buông xuống. Mỗi bảng chọn buông xuống chứa nhiều mục chọn thực hiện các công việc khác nhau. Tên các bảng chọn, mục chọn phản ánh khá chính xác nội dung công việc mà nó thực hiện. Gõ Alt + chữ cái được làm nổi bật để mở các bảng chọn buông xuống tương ứng. Ví dụ, gõ Alt + F để mở bảng chọn File, gõ Alt + E để mở bảng chọn Edit, gõ Alt + S để mở bảng chọn Search, v.v. Cũng có thể dùng các phím mũi tên sang phải, sang trái để di chuyển trên thanh chọn chính và gõ Enter để mở bảng chọn buông xuống tại vị trí đó.
Dòng nhắc lệnh gồm nhiều cặp phím gõ tắt – tên lệnh cho biết cách thực hiện nhanh các lệnh hay dùng. Cặp F1 Help nghĩa là gõ phím F1 để mở phần trợ giúp, cặp Alt+F9 Compile nghĩa là gõ tổ hợp phím Alt – F9 để thực hiện biên dịch, v.v..
Các bảng chọn
Sau đây là nội dung của các bảng chọn và chức năng của các mục chọn
chứa trong đó. Y nghĩa của các mục chọn sẽ được tìm hiểu kĩ hơn khi gặp
vấn đề có liên quan.
– Bảng chọn File.
Bảng chọn File tập hợp các thao tác với tệp văn bản chưong trình.
New Mở cửa sổ soạn thảo mới
Open … F3 Mở tệp đã có trên đĩa để sửa chữa, viết tiếp
Save F2 Ghi lưu tệp chương trình đang soạn thảo lên đĩa với tên cũ
Save as … Ghi lưu tệp chương trình đang soạn thảo lên đĩa với tên khác
Save all Ghi lưu tất cả các tệp đang mở trong các cửa sổ soạn thảo
Change dir … Chuyển sang làm việc ở thư mục khác.
Print In văn bản chương trình ra máy in
Printer setup… Thiết đặt các tham số cho thao tác in
DOS shell Tạm về DOS,
Exit Alt+X Thoát hẳn khỏi môi trường Turbo Pascal trở về DOS.
Lưu ý rằng ở bên phải, cạnh một số tên mục chọn hay dùng có ghi kèm các phím gõ tắt ứng với mục chọn đó.
– Bảng chọn Edit.
Bảng chọn này có nhiều chức năng hỗ trợ cho việc soạn thảo văn bản chương trình như sao chép, cắt dán. Trước khi thực hiện sao chép, cắt dán, v.v. cần đánh dấu khối văn bản bằng cách nhấn tổ hợp phím Shift + các phím mũi tên lên, xuống, sang phải, sang trái.
Undo Alt+ BkSp Hoãn việc vừa nhỡ làm.
Redo Lặp lại việc vừa làm.
Cut Shift + Del Cắt bỏ và chép vào vùng đệm
Copy Ctrl + Ins Sao vào vùng đệm
Paste Shift + ins Dán (từ vùng đệm) vào vị trí từ chỗ con chạy
Clear Ctrl + Del Xoá đoạn đã đã đánh dấu.
Show clipboard Hiển thị vùng đệm.
– Bảng chọn Run
Bảng chọn Run gồm nhiều chức năng để cho thực hiện chương trình trong các chế độ khác nhau. Có thể theo dõi hoạt động của chương trình từng chặng một, thậm chí từng bước một, qua từng câu lệnh. Gõ Enter để sang bước tiếp theo.
Run Ctrl + F9 Dịch và chạy thử.
Step over F8 Thực hiện từng bước, từng câu lệnh của chương trình. Lời gọi chương trình con coi là một bước.
Trace into F7 Thực hiện từng bước, từng câu lệnh, kể cả vào trong chương trình con
Go to cursor F4 Thực hiện chương trình cho đến dòng lệnh có con chạy
Program reset Trở lại chế độ chạy bình thường.
– Bảng chọn Compile
Bảng chọn này cho phép thiết lập các lựa chọn khác nhau khi biên dịch và liên kết chương trình. Theo mặc định, sẽ biên dịch văn bản chương trình trong cửa sổ soạn thảo đang làm việc. Đó là tệp mã nguồn, có đuôi *.PAS . Tệp kết quả sau biên dịch và liên kết là tệp thi hành – executable, có tên trùng với tên tệp mã nguồn nhưng có đuôi *.EXE.
Với chương trình lớn, có thể nhiều tệp mã nguồn. Trong đó chỉ có một tệp là tệp chính – Primary File. Các tệp khác là tệp phụ kèm theo, bổ xung cho tệp chính. Lựa chọn Primary File cho phép thiết lập tên tệp mã nguồn chính. Dù ta đang soạn thảo một tệp khác, tệp mã nguồn chính thậm chí có thể không được mở, việc biên dịch vẫn bắt đầu từ Primary File.
Compile Alt + F9 Dịch tệp văn bản chương trình đang có.
Make F9 Dịch và liên kết
Build
Destination Thư mục để ghi tệp kết quả.
Memory Ghi tệp *.exe nhận được vào bộ nhớ hay vào đĩa Memory / Disk
Primary file … Thiết lập tệp mã nguồn chính.
Clear primary file Bỏ thiết lập tệp mã nguồn chính.
Infomation
– Bảng chọn Windows
Bảng chọn Window để thao tác với các cửa sổ khác nhau đang được mở. Lưu ý rằng, tại một thời điểm có thể đang mở nhiều cửa sổ nhưng chỉ có một cửa sổ đang làm việc – Active Window. Có thể lựa chọn cho phép cửa sổ đang làm việc đè lên trên, che khuất các cửa sổ còn lại – Cascade, hay nằm bên cạnh các cửa sổ khác, không che khuất nhau, giống như lát gạch nền nhà – Tile.
Có thể hình dung các cửa sổ đã được mở ra xếp thành dãy có trình tự trước sau theo thời điểm được mở. Di chuyển Next, Previous là đối với dãy theo trình tự nói trên.
Tile Xếp các cửa sổ cạnh nhau
Cascade Xếp các cửa sổ đè lên nhau
Close all Đóng mọi cửa sổ đang mở
Refresh display Làm tươi lại màn hình
Size/Move Ctrl + F5 Co giãn từng chiều / Di chuyển
Zoom F5 Phóng to, thu nhỏ
Next F6 Chuyển sang làm việc ở cửa sổ tiếp theo
Previous Shift + F6 Lùi về cửa sổ liền ngay trước
Close Alt + F3 Đóng cửa sổ hiện hành
List … Hiện danh sách tên các cửa sổ đang mở (để chọn). Chọn cái nào thì cửa sổ đó thành cửa sổ làm việc.
Các bước xây dựng một chương trình trong môi trường Turbo Pascal
– Khởi động Turbo Pascal.
– Mở tệp để soạn thảo văn bản chương trình: mở bảng chọn File , chọn New để mở tệp mới, hoặc Open (F3) để mở tệp đã có trên đĩa.
-Soạn thảo văn bản chương trình. Theo mặc định màn hình soạn thảo của Turbo Pascal sẽ có chữ màu vàng trên nền xanh dương. Phiên bản Turbo Pascal 7.0 còn hỗ trợ cho người lập trình qua việc hiển thị các từ khoá bằng chữ màu trắng.
– Ghi lưu vào đĩa. Lần đầu tệp chưa có tên, khung cửa sổ soạn thảo tạm được đặt tên làNoName00.pas. Phải mở bảng chọn File, chọn Save as … và đặt tên cho tệp chương trình. Têp sẽ được ghi lại với tên đã chọn và đuôi .PAS theo mặc định.
– Dịch và sửa lỗi cú pháp (Alt + F9 hoặc F9). Nếu có lỗi cú pháp sẽ xuất hiện một thông báo lỗi màu đỏ. Vị trí có lỗi thường ở ngay trước con chạy đang nhấp nháy trên màn hình. Nếu dịch thành công, một tệp chạy được (có đuôi .exe) có tên trùng với tên tệp văn bản chương trình sẽ được tạo ra.
– Dịch và chạy chương trình (Ctrl + F9). Nếu đã hết lỗi cú pháp, dịch thành công, thì máy sẽ tạm thoát khỏi môi trường tích hợp của Turbo Pascal, trở về DOS và cho thực hiện tệp *.exe vưà tạo ra.
– Xem kết quả (Alt + F5). Nếu chương trình chạy thông, nghĩa là không bị dừng giữa chừng do lỗi khi chạy chương trình – run time error, thì khi kết thúc thực hiện chương trình máy sẽ lập tức trở lại ngay môi trường phát triển của Turbo Pascal. Ta không kịp xem các kết quả mà chương trình đã hiển thị ra màn hình DOS. Gõ Alt + F5 để cho hiện lại màn hình này. Cũng vì lí do này mà nhiều người thêm câu lệnh Readln vào cuối chương trình để chờ gõ phím Enter, có thời gian để xem kết quả.

About these ads

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: